Nón lá Chợ Đình Quảng Ngãi nổi tiếng một thời

Nón lá chợ Đình, xã Tịnh Bình, H.Sơn Tịnh (Quảng Ngãi) đã từng một thời không thua gì nón Gò Găng Bình Định, nón Huế. Giờ đây, Chợ Đình đìu hiu bởi làng nghề làm nón lá mai một.

Lơ thơ chợ nón

Nghề nón Chợ Đình có từ khoảng cuối thế kỷ 19, do một người tên Bính truyền dạy. Một thời bôn ba đó đây tìm kế sống, ông Bính đã học được nghề làm nón lá rồi quay về quê làm nghề kiếm sống, sau đó truyền lại cho dân xã Tịnh Bình.
Từ đó, cả xã này ai cũng mưu sinh bằng nghề nón lá, trong đó như làng Vĩnh Lộc (nay là thôn Bình Nam), làng Châu Nhai (nay là thôn Bình Bắc) 100% gia đình ở đây sống bằng nghề nón, còn các làng khác có đến trên 50% hộ gia đình cũng mưu sinh bằng nghề nón.
Người Tịnh Bình làm nón nhưng không bán ở nhà mà tất cả đều mang ra chợ Đình để bán. Ông Mẫn cho biết, những năm nghề thịnh, chợ Đình buổi sáng bán khoai, sắn và nông sản các loại, nhưng từ 11 – 13 giờ trưa chỉ bán nón lá.

Nón lá Chợ Đình qua bàn tay dân buôn mang đi bán khắp nơi

Khắp đầu chợ đến cuối chợ là những “cây nón” trắng tinh khôi đứng ngồi la liệt. Điều đáng nói, chợ Đình bán nón sỉ cho các tư thương khắp nơi đổ về chứ không bán lẻ.

Nón từ chợ Đình qua bàn tay dân buôn mang đi bán khắp nơi, từ chợ quê lên chợ tỉnh Quảng Ngãi, đi vào các tỉnh phía nam và thậm chí lấn ra tỉnh Quảng Nam, nơi có làng nón chợ Chùa.
“Xưa, đi ngang qua Tịnh Bình, thấy nhà nào cũng phơi nón đầy sân. Ban đêm các cô gái tập trung tại các nhà rộng thoáng, vừa chằm nón vừa hát hò đối đáp với trai làng đến khuya, vui lắm”, cụ Thành nhớ lại.
Sau 1975, làng nghề tiếp tục phồn thịnh, nhưng hơn 10 năm nay, làng nghề nón chợ Đình tiêu điều, người nghề nón bỏ sang nghề khác, hoặc bôn ba nam bắc kiếm kế khác sinh nhai.

Mấy ai còn nhớ chuyện nghề

 Hồi làng nón còn phồn thịnh, khi chưa có xe đạp, người dân phải đi bộ hàng trăm cây số, trên vai vác đòn gióng tre dài vót nhọt hai đầu, đi đến xã vùng cao Sơn Hà, Trà Bồng, Ba Tơ để mua lá làm nón của đồng bào dân tộc thiểu số gánh về.
Sáng sớm tinh mơ, ai cũng đùm theo gói cơm ra đi, còn chiều hôm sau về lại, ai cũng gánh trên vai 1.000 lá nón kẽo kịt.
Sau đó, dân làng đi gánh cát về trải lên lá nón, đạp cho phấn lá nón tróc ra mới xâu lại 10 lá nón thành một. Tiếp theo là lấy miếng gang hong nóng lên hơ từng lá nón, vuốt lá thẳng ra.
Cuối cùng là vót 20 tuyến bằng tre đặt lên kèo (khuôn) rồi chắp lá và bắt đầu chằm nón. Mỗi nón lá chằm ba lớp lá: hai lớp ngoài là lá nón non, lớp bên trong lá nón già hơn.
Khi chằm xong, dân làng phủ bên ngoài lớp dầu thông và bên trong kiềm bốn cái đố bằng tre cho nón chắc, bền.

Thợ làm nón vẫn còn lác đác cho “đỡ nhớ nghề

Cực nhọc với đủ công đoạn nhưng nón lá bán ra chỉ 15.000 đồng/cái. Gia đình nào giỏi thì mỗi ngày làm được 2 cái, còn thường là một cái nhưng 4 – 5 người cùng nhau làm.
Vậy mà sau này còn bán không được, gia đình nào cũng không đủ ăn, đành quay lưng với nghề.
Đến giờ, vẫn lác đác có người chằm nón lá, nhưng làm cho đỡ nhớ nghề chứ không phải “sống bằng nghề” như thời nào.
Ngày nay đi xe máy đội nón bảo hiểm, ra đồng thì đội khẩu trang, mũ lá… tiện lợi hơn, rẻ hơn, bền hơn nên không có chỗ cho nón lá sống.
(Theo báo thanhnien)