Nón lá Việt Nam ngày nay đã trở thành một nét đẹp truyền thống gắn liền với hình ảnh áo dài giúp người con gái Việt trở nên duyên dáng, dịu dàng hơn.
Nón lá ở Việt Nam có nhiều loại khác nhau qua từng giai đoạn lịch sử:
Nón dấu : nón có chóp nhọn của lính thú thời xa xưa
Nón gò găng hay nón ngựa: sản xuất ở Bình Định làm bằng lá dứa đội khi cỡi ngựa
Nón rơm : Nón làm bằng cộng rơm ép cứng
Nón quai thao : người miền Bắc thường dùng trong lễ hội
Nón Gõ : Nón gõ làm bằng tre ghép cho lính hồi xưa
Nón lá Sen: cũng gọi là nón liên diệp
Nón thúng: thứ nón lá tròn bầu giống cái thúng.
Nón khua :Viên đẩu nón của người hầu các quan xưa
Nón chảo : thứ nón mo tròn lên như cái chảo úp nay ở Thái Lan còn dùng
Nón cạp: Nón xuân lôi đại dành cho người có tang
Nón bài thơ : ở Huế thứ nón lá trắng và mỏng có lộng hình hay một vài câu thơ
Nón lá và lịch sử hình thành
Nghề làm nón đã hình thành và phát triển từ hàng trăm năm nay. Ngày nay vẫn còn nhiều địa danh nổi tiếng về làm nón được nhiều người biết đến. Hàng năm từ những địa điểm này cho ra đời hàng ngàn chiếc nón phục vụ không chỉ cho nhu cầu sử dụng hàng ngày của người dân địa phương mà còn bán đi cho người dân và cả khách du lịch.
Nón lá xưa nay vẫn được biết đến nhiều nhất là loại nón được làm cây lá nón được trồng nhiều nhất ở hai huyện miền núi Nam Đông và A Lưới của tỉnh Thừa Thiên Huế. Nón lá vốn được ưa chuộng bởi nét thanh cảnh, mai mai, nhẹ nhàng. Và đặc biệt được chằm tỉ mỉ cẩn thận bởi bàn tay người phụ nữ.
Những ai yêu thích nón lá thì còn biết đến chiếc nón bài thơ. Với các họa tiết danh lam thắng cảnh của Huế như cầu Trường Tiền, chùa Thiên Mụ… Xen kẽ có các dòng thơ về Huế được đặt giữa hai lớp lá nón một cách cân đối. Người sử dụng khi đội đầu và soi lên ánh mặt trời thì sẽ ẩn hiện các hoa văn. Đó là chiếc nón mang cảm xúc về Huế. Và là khởi đầu cho nón nghệ thuật Huế đáp ứng nhu cầu thẩm mỹ thời trang bên cạnh mục đích sử dụng che nắng.